Thứ năm, 21/6/2018 Đẩy mạnh cải cách hành chính và hiện đại hoá, xây dựng Hải quan Bình Định thành lực lượng chuyên nghiệp, có chuyên môn sâu, hoạt động minh bạch, liêm chính, có hiệu lực và hiệu quả; tích cực tham gia xây dựng phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương. Đường dây nóng: 19009299
Ngày :14/06/2018
USD = 22.583
14/06/2018 - 20/06/2018
Nguyên Tệ Tỷ Giá
EUR 26.493,03 đ
JPY 204,23 đ
GBP 30.152,92 đ
CHF 22.856,85 đ
AUD 17.078 đ
CAD 17.327,71 đ
SEK 2.611,14 đ
NOK 2.803,92 đ
DKK 3.556,21 đ
RUB 357,5 đ
NZD 15.813,63 đ
HKD 2.876,95 đ
SGD 16.888,32 đ
THB 702,71 đ
IDR 1,62 đ
INR 333,78 đ
TWD 755,7 đ
CNY 3.525 đ
KHR 5,57 đ
LAK 2,71 đ
MOP 2.799,85 đ
KRW 20,82 đ
Liên kết Website
 
THANH TRA CHUYÊN NGÀNH VÀ KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TRONG NGÀNH HẢI QUAN
Thứ sáu, 15/12/2017 - 14:45:31 (GMT+7)
    Cùng với tốc độ phát triển mạnh mẽ theo chiều hướng toàn cầu hoá của nền kinh tế thế giới, quan hệ giao lưu kinh tế giữa các quốc gia cũng ngày càng gia tăng. Thương mại quốc tế đã thật sự trở thành động lực phát triển của mỗi quốc gia cũng như của nền kinh tế thế giới, sự hấp dẫn và sức cuốn hút của thương mại quốc tế mạnh đến mức không quốc gia nào đủ can đảm từ chối nó.

    Thương mại quốc tế phát triển dẫn đến sự ra đời của các hiệp định thương mại quốc tế song phương (Ví dụ hiệp định thương mại Việt Mỹ) và đa phương (Các hiệp định: GATT, CEPT, AFTA…) các hiệp định này một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế phát triển nhưng mặt khác lại luôn luôn đòi hỏi giảm bớt thủ tục phiền hà, giải phóng hàng hoá ra khỏi các cửa khẩu hải quan càng nhanh càng tốt. Thực tế này đang tạo ra sức ép từ nhiều phía cho Ngành hải quan:

    - Khối lượng hàng hoá cần phải kiểm tra tăng lên.

    - Thời gian lưu giữ hàng hoá để kiểm tra bị rút ngắn lại.

    Nhưng chính phủ và nhân dân vẫn đòi hỏi Ngành hải quan phải hoàn thành ngày càng xuất sắc hơn nhiệm vụ chống gian lận thương mại, bảo vệ sản xuất nội địa và không để thất thu thuế.

    Mặt khác theo Hiệp định trị giá GATT khi chưa có đầy đủ bằng chứng để phủ định trị giá hàng hoá do chủ hàng khai báo Hải quan không để áp đặt trị giá tính thuế mà phải chấp nhận trị giá hải quan do chủ hàng khai báo.

    Những khó khăn thách thức đối với nhiệm vụ chống gian lận thương mại của Ngành hải quan còn phải tính đến một thực tế không dễ vượt qua đó là thiếu thông tin về hàng hoá, trị giá tính thuế và trong khoảng thời gian ngắn lưu giữ hàng hoá tại các cửa khẩu, các nhân viên hải quan chỉ có thể “kiểm tra đại diện” theo xác suất một số lượng hàng hoá ở một chừng mực nào đó, thường không quá 10% và chứng từ thương mại Hải quan do chủ hàng xuất trình tức là mới kiểm tra “một nửa bức tranh” mà thôi. Nửa còn lại của bức tranh là những chứng từ, sổ và các ghi chép kế toán, ngân hàng… thì lại do chủ hàng nắm giữ và trong đó có nhiều chứng từ chỉ phát sinh sau khi hàng hoá đã được giải phóng ra khỏi cửa khẩu hải quan thậm chí đã bán cho người thứ ba.

    Kinh nghiệm thực tế của Hải quan các nước cho thấy nếu chỉ dừng công việc kiểm tra của hải quan tại cửa khẩu thì không những không thể phát hiện và ngăn chặn các trường hợp cố ý gian lận mà còn gây phiền phức, ách tắc cho hoạt động xuất nhập khẩu.

    Đứng trước thực tế đó Ngành hải quan cần phải tăng cường hiệu lực công tác của mình bằng cách áp dụng những biện pháp nghiệp vụ kéo dài thời hiệu kiểm tra, mở rộng phạm vi và đối tượng kiểm tra kiểm soát… Biện pháp nghiệp vụ thoả mãn các yêu cầu này chính là Thanh tra chuyên ngành (thanh tra) và Kiểm tra sau thông quan (kiểm tra).

    Thanh tra chuyên ngành và Kiểm tra sau thông quan trong Ngành hải quan đều là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán và các chứng từ khác, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa; kiểm tra thực tế hàng hóa trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa đã được thông quan.

    Thanh tra chuyên ngành và Kiểm tra sau thông quan trong Ngành hải quan nhằm đánh giá việc chấp hành các quy định của pháp luật về hải quan, pháp luật về thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

    Tuy nhiên, ngoài những điểm giống nhau như đã nêu trên thì hoạt động Thanh tra chuyên ngành và Kiểm tra sau thông quan trong Ngành hải quan tại trụ sở doanh nghiệp còn có những điểm khác nhau sau đây:

    Thứ nhất, khác nhau về nội dung giữa thanh tra và kiểm tra. Nội dung thanh tra thường phức tạp, đa dạng hơn so với nội dung kiểm tra (nội dung kiểm tra thường đơn giản, dễ nhận thấy hơn). Do vậy, khi lập kế hoạch cũng như phê duyệt kế hoạch thanh tra, những cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật nhất thiết phải nghiên cứu thận trọng, kỹ lưỡng, khách quan.

    Thứ hai, khác nhau về phạm vi hoạt động giữa thanh tra và kiểm tra. Phạm vi hoạt động của thanh tra thường hẹp hơn phạm vị hoạt động của kiểm tra. Phạm vi hoạt động của thanh tra thường được cân nhắc chọn lọc một cách kĩ lưỡng, thậm chí phải qua kiểm tra sau đó mới quyết định thanh tra để đảm bảo tính trọng tâm, trọng điểm, hiệu lực hiệu quả của thanh tra cũng như đảm bảo mục đích của thanh tra. Nếu sự việc chỉ cần kiểm tra mà do không nắm bắt, đánh giá, nhận định đúng đối tượng mà ra quyết định thanh tra thì cuộc thanh tra đó không đảm bảo tính thuyết phục, sắc bén, quyền lực của thanh tra.

    Thứ ba, khác nhau về thời hạn giữa thanh tra và kiểm tra.Trong hoạt động thanh tra chuyên ngành hầu hết các vấn đề đều được tiến hành thẩm tra, xác minh, đối chiếu rất công phu, thân trọng mới có thể đưa ra được những kết luận những kiến nghị một cách chính xác, khách quan nên phải sử dụng nhiều thời gian hơn so với kiểm tra sau thông quan: Thời hạn thanh tra chuyên ngành tiến hành không quá 30 ngày, trường hợp phức tạp có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 45 ngày; Thời hạn kiểm tra sau thông quan theo quyết định kiểm tra nhưng tối đa không quá mười (10) ngày làm việc. Thời gian gia hạn: Tối đa không quá 10 ngày làm việc.

    Thứ tư, khác nhau về biên bản giữa thanh tra và kiểm tra. Về Kiểm tra sau thông quan: Các Biên bản kiểm tra hoàn thành trong thời gian thực hiện quyết định kiểm tra. Trường hợp phức tạp, trường hợp cần bổ sung chứng từ, tài liệu hoặc trường hợp người khai hải quan cần giải trình và một số trường hợp đặc biệt khác, trong thời hạn tối đa 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc kiểm tra, phải hoàn thành Biên bản kiểm tra; Về Thanh tra chuyên ngành: Trước khi kết thúc thanh tra thực tế tại trụ sở đối tượng thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra chủ trì tổ chức dự thảo biên bản thanh tra. Dự thảo biên bản phải được gửi cho đối tượng thanh tra để có ý kiến giải trình (nếu có). Trong thời hạn của cuộc thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra phải tổ chức họp với đối tượng thanh tra để thông qua và ký biên bản thanh tra.

    Thứ năm, khác nhau về dự thảo kết luận giữa thanh tra và kiểm tra. Về Thanh tra chuyên ngành: Căn cứ biên bản thanh tra, giải trình của đối tượng thanh tra (nếu có), trong thời hạn tối đa 15 ngày, kể từ ngày kết thúc cuộc thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra phải có văn bản báo cáo kết quả thanh tra và dự thảo kết luận thanh tra để trình cấp có thẩm quyền xem xét, trừ trường hợp nội dung kết luận thanh tra phải chờ kết luận về chuyên môn của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; Về Kiểm tra sau thông quan: Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc kiểm tra tại trụ sở người khai hải quan, người có thẩm quyền kết luận kiểm tra phải hoàn thành bản dự thảo kết luận kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan, kiểm tra tất cả các trang dự thảo, ký nháy (xác nhận đã duyệt) và gửi cho người khai hải quan 01 bản chụp.

    Thứ sáu, khác nhau về kết luận giữa thanh tra và kiểm tra. Về Thanh tra chuyên ngành: Căn cứ báo cáo kết quả thanh tra, nội dung giải trình của đối tượng thanh tra (nếu có) và hồ sơ, tài liệu có liên quan, chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thanh tra và hồ sơ trình ký thông qua kết luận thanh tra đã được Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc thanh tra xem xét, cho ý kiến, người ra quyết định thanh tra phải ký văn bản kết luận thanh tra. Trừ trường hợp nội dung kết luận thanh tra phải chờ kết luận về chuyên môn của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; Về Kiểm tra sau thông quan: Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn gửi dự thảo kết luận kiểm tra, người khai hải quan giải trình, đưa ra ý kiến về dự thảo kết luận kiểm tra (bằng văn bản hoặc làm việc trực tiếp với người ban hành quyết định kiểm tra liên quan đến nội dung giải trình, nội dung làm việc được ghi nhận tại biên bản làm việc theo mẫu số 12/2015-KTSTQ) theo quy định tại tiết d.2 điểm d, khoản 4, Điều 143 Thông tư 38/2015/TT-BTC. Hết thời hạn trên mà người khai hải quan không có ý kiến thì coi như người khai hải quan đã đồng ý với dự thảo kết luận. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn giải trình của người khai hải quan, người có thẩm quyền kết luận kiểm tra có trách nhiệmký ban hành “Bản kết luận kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan”. Kết luận kiểm tra được đóng dấu giáp lai hoặc ký nháy từng trang. Đối với trường hợp kết luận kiểm tra cần có ý kiến về chuyên môn của cơ quan có thẩm quyền, thì thời hạn ký ban hành kết luận là 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản ý kiến của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền. Hết thời hạn 30 ngày cơ quan chuyên môn không có ý kiến trả lời thì người có thẩm quyền kết luận kiểm tra kết luận kiểm tra và xử lý kết quả kiểm tra dựa trên kết quả kiểm tra và hồ sơ hiện có;

    Tóm lại, thanh tra chuyên ngành và kiểm tra sau thông quan trong Ngành hải quan có mối quan hệ mật thiết gắn bó với nhau, giữa chúng có sự giống nhau về mục đích nhưng lại khác nhau về sáu phương diện chủ yếu trên đây. Sự phân biệt này góp phần trong việc tuyên truyền cho doanh nghiệp hiểu rõ hơn về hoạt động thanh tra chuyên ngành và kiểm tra sau thông quan trong Ngành hải quan, trong việc xây dựng, hoàn thiện chế định pháp luật về thanh tra và kiểm tra đảm bảo cho hoạt động thanh tra, kiểm tra ngày càng được coi trọng và đạt hiệu lực hiệu quả cao hơn./.

    

    Nguồn:

    - Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014;

    - Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 ngày 15/11/2010;

    - Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ Quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành;

    - Nghị định số 82/2012/NĐ-CP ngày 09/10/2012 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động thanh tra ngành Tài chính;

    - Thông tư số 19/2013/TT-BTC ngày 20/02/2013 của Bộ Tài chính Hướng dẫn thực hiện một số quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra Ngành Tài chính;

    - Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

    - Quyết định số 265/QĐ-TCHQ ngày 14/2/2014 của Tổng cục Hải quan về việc ban hành quy trình thanh tra chuyên ngành trong Ngành hải quan;

    - Quyết định số 1410/QĐ-TCHQ ngày 14/5/2015 của Tổng cục Hải quan về việc ban hành quy trình kiểm tra sau thông quan.

    
Linh Nhi

Các tin khác:

Tiêu chí thành lập, tổ chức lại Đội (Tổ) thuộc Chi cục Hải quan (15/12/2017)
Cục Hải quan tỉnh Bình Định tổ chức “Hội thao nội bộ năm 2017” (31/10/2017)
Cục Hải quan tỉnh Bình Định tổ chức “Đêm hội trăng rằm 2017” (18/10/2017)
Hội nghị tập huấn ứng dụng Công nghệ thông tin ngành Hải quan năm 2017 (26/09/2017)
CỤC HẢI QUAN TỈNH BÌNH ĐỊNH: TRIỂN KHAI ĐỀ ÁN QUẢN LÝ, GIÁM SÁT HÀNG HÓA TẠI CẢNG... (30/08/2017)
Tham gia vẽ tranh cổ động chào mừng Đại hội XII Công đoàn Việt Nam (24/08/2017)
Giải đáp trực tuyến về kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK (18/08/2017)
Cục Hải quan Bình Định thăm và tặng quà cho thôn Gò Đồn xã An Tân huyện An Lão (16/08/2017)
Công đoàn Cục Hải quan tỉnh Bình Định tham gia hiến máu tình nguyện đợt 2 do Công... (16/08/2017)
ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN CỤC HẢI QUAN TỈNH BÌNH ĐỊNH THAM GIA LỄ THẮP NẾN TRI ÂN CÁC... (31/07/2017)
Số lượt truy cập
Đang truy cập